Sunday, April 1, 2012

Vở 'Tosca' và nàng Diva muôn thuở


Vở 'Tosca' và nàng Diva muôn thuở 
Friday, March 30, 2012 1:23:17 PM

Tạp Ghi Quỳnh Giao


Ðầu tháng 7 năm tới là lễ kỷ niệm 60 năm ngày bà Elizabeth Ðệ Nhị đăng quang làm nữ hoàng của Vương quốc Anh và nhiều quốc gia khác trong Liên Hiệp Anh, kể cả Gia Nã Ðại, Úc và Tân Tây Lan. Riêng với người yêu nhạc opéra, năm 1953 còn kỷ niệm một biến cố khác, lễ đăng quang của nữ thần Opéra, nàng Maria Callas.
Ðó là khi vở “Tosca” được hãng đĩa EMI ghi âm và tung ra thị trường với tiếng hát của thế kỷ.
Thế giới âm nhạc có cả trăm vở hát từng được thực hiện cho đời sau, nhưng đĩa nhạc Tosca của Maria Callas đã vượt mọi tác phẩm trước sau để đứng vào hạng hoàn hảo nhất.
Nếu năm 1953 bà Elizabeth mới 27 tuổi thì Maria Callas đã tròn ba chục. Với nhiều người hay nhiều nghề, tuổi ba chục có thể là loại “trung niên” sắp về già. Với Maria Callas đấy là tuổi chín mùi của một sự nghiệp không dài trong một đời người có quá nhiều sóng gió, tai ương. Năm đó, với vở Tosca, Maria Callas khởi sự ghi âm 16 vở hát và để lại một di sản cho đời. Ðứng đầu và có lẽ cho mãi mãi về nghệ thuật thì chính là vở Tosca.
Những người thích sáng tạo hoặc tìm đề tài sáng tác thì có thể chọn ngay vở nhạc kịch đó làm nguồn cảm hứng.
Ban đầu, một kịch tác gia thuộc loại trứ danh của Pháp đã soạn ra vở kịch “La Tosca” gồm có năm màn. Do tài nghệ của Victorien Sardou, nàng Tosca lần đầu tiên xuất hiện trên sân khấu là vào cuối năm 1887. Sau này là một ông Hàn trong văn chương Pháp, Victorien Sardou chủ ý sáng tác vở kịch cho đệ nhất kịch sĩ đương thời là nữ hoàng Sarah Bernhart của sân khấu Âu Châu. Hãy tưởng tượng như Vũ Thành hay Phạm Duy sáng tác riêng một ca khúc cho Kim Tước hay Thái Thanh trên đỉnh nghệ thuật của hai danh ca này.
Vở La Tosca lập tức trở thành hiện tượng với hơn ba ngàn lần trình diễn và Sarah Bernhart lưu diễn tại nhiều nước khác khi thế giới chưa có phương tiện ghi lại đầy đủ hình ảnh của vở kịch. Bên kia biên giới, nhạc sĩ Giacomo Puccini có được xem “Nàng Tosca,” ít ra hai lần là tại Milan và Turin. Ông quyết định và vận động rất nhiều để xin phép dựng lại thành một vở nhạc kịch, nhưng ban đầu còn bị Victorien Sardou từ chối vì chẳng biết Puccini là ai cả! Nghĩa là có tâm mà e rằng chưa đủ cái tầm.
Mãi đến năm 1895, Puccini mới được phép, khi thế kỷ 19 đang khép lại.
Người nhạc sĩ giữ nguyên cốt truyện, nhưng cô đọng vào ba vai chính và dùng âm nhạc diễn tả tính chất bi hùng của thảm kịch, trong khi cũng phải thảo luận và tranh luận khá nhiều với tác giả Sardou cùng những người soạn lời cho vở nhạc kịch.
Mãi đầu năm 1900, vở Tosca mới xuất hiện và từ đó, người ta quên dần “La Tosca” nguyên thủy. Ngày nay, có lẽ chỉ còn dân Pháp là nhớ đến Victorien Sardou, đôi khi còn lầm rằng ông là cụ nội của danh ca Michel Sardou khá nổi tiếng tại Pháp.
Vở Opéra của Puccini kết tụ sự đối chọi giữa thiện, ác và nghệ thuật qua ba nhân vật là nàng Tosca, ông trùm cảnh sát Scarpia và họa sĩ Cavaradossi. Ông dùng âm nhạc diễn tả thảm kịch và tiếng soprano của nàng Tosca ngân vang trên giọng bariton của Nam Tước Scarpia cùng giọng tenor của chàng Cavaradossi. Với tiếng hát Maria Callas, nàng Tosca trở thành bất tử qua đoản khúc nổi tiếng nhất vở, “Vissi d'Arte, Vissi d'Amore.” Ta sống vì nghệ thuật, ta sống nhờ tình yêu.
Khi mời Maria Callas và hai tiếng hát Giuseppe di Stefano cùng Tito Gobbi thực hiện vở nhạc kịch thì quả là hãng đĩa EMI đã chọn mặt gửi vàng. Nhưng chính tiếng hát Maria Callas mới là vàng ròng chảy qua cả tác phẩm dưới cây đũa thần của nhạc trưởng Victor de Sabata. Và vào thời ấy, người ta chưa có kỹ thuật của loại âm thanh hai chiều gọi là “stereo” như về sau.
Mười năm sau, người ta có dựng lại vở Tosca để thu hình với đạo diễn Franco Zeffirelli, vẫn nhờ tiếng hát Maria Callas và Tito Gobbi, mà không thể vượt qua đĩa nhạc. Maria Callas diễn xuất rất đẹp trong một lần cuối, nhưng tiếng hát thiên thần không còn như xưa. Nàng Diva lặng lẽ giã từ nghệ thuật và cuộc đời, để lại cho đời sau một danh hiệu là tiếng hát của thế kỷ.
Thời nay, người ta quá dễ dãi khi phong danh hiệu cho các nữ ca sĩ là “Diva.”
Với âm thanh, ánh sáng hay kỹ thuật ghi âm thu hình tân tiến hơn, các nhà sản xuất có thể gây ảo giác nghệ thuật và dựng lại cung đình giả cho các vị nữ hoàng rất “pop,” rất phổ thông cho thần dân ưa thưởng thức nghệ thuật bằng thị giác. Thời xưa cũng thế, người ta từng tranh luận rằng phải thưởng thức một vở opéra trên sân khấu của hý viện chứ không thể xem trên màn ảnh vì thiếu chất sống, thiếu cái luồng điện chạy khắp châu thân của khán giả.
Với đĩa Tosca thực hiện từ năm 1953, người ta không có sự phụ diễn của trang sức và sân khấu và cũng chẳng được xem mà chỉ được nghe. Vậy mà vẫn rùng mình vì tiếng hát Maria Callas.
Ðấy mới là quyền uy thật của một nàng Diva chân chính.
Người viết này thường so sánh nhiều cách thẩm âm hoặc trình diễn. Sân khấu hay màn ảnh truyền hình hoặc màn bạc của phim ảnh có tạo cơ hội cho khán giả tiếp nhận nghệ thuật một cách toàn diện, ít ra là bằng tai bằng mắt. Nhưng khi ngồi im ở một nơi, nhắm mắt lại mà chỉ còn “quán” nghệ thuật bằng đôi tai, có lẽ chúng ta tiến đến nghệ thuật âm nhạc một cách tuyệt đối nhất. Lúc đó, nếu có thật thì cốt tủy của âm thanh mới tạo ra sự giác ngộ.
Maria Callas đã tạo ra sự kỳ diệu ấy khi mà chúng ta chưa có ánh đèn màu và âm thanh nổi để tôn vinh tài nghệ của bà. Khi ấy, lằn ranh giữa âm nhạc và đời sống đã được xóa mờ và dẫn người nghe đến một cõi khác.
Quỳnh Giao viết như vậy thì có vẻ như đang luận về thiền! Ðôi khi sự thật lại đơn giản mà cũng tuyệt đối hơn.
Hãy tưởng tượng đến hoàn cảnh của Beethoven khi ông soạn bản Giao hưởng số Chín, tác phẩm được xem là tột đỉnh của nghệ thuật âm nhạc cổ điển Tây phương. Khi đó, ông đã hoàn toàn điếc và chẳng nghe được tiếng nhạc của chính mình.
Khi ấy, Beethoven giao cảm với nghệ thuật bằng cái gì?

Labels

Followers