Sunday, May 29, 2011

70 Năm Tình Ca Trong Tân Nhạc Việt Nam (1930 - 2000)

Xin mời thưởng thức một phần kho tàng âm nhạc Việt Nam trong những ngày Xuân Tân Mão 2011 - thay cho quà đầu năm mới - .  
Kính gởi Tâm bút gia T.Vấn,
Sau khi đọc bài viết này, chắc chắn là ông Hoài Nam rất cảm động vì ít ra cũng có một thính giả đã đặc biệt trân trọng và ghi lại giá trị của công trình đầy tâm huyết của ông.  STHĐ đã từng thưởng thức chương trình này, bây giờ nghe lại càng thấy hay hơn.
Nếu quý độc giả chưa có thời gian download trọn bộ “70 năm tình ca trong tân nhạc Việt Nam “, xin quý vị chọn lọc và thưởng thức các buổi phát thanh mà quý vị đặc biệt yêu thích.
STHĐ
Trong trường hợp các links (Phần 01, phần 2,…) dưới đây không hoạt động, xin quý vị vui lòng bấm vào link:
hoặc:
70 Năm Tình Ca  Trong Tân Nhạc Việt Nam (1930 - 2000)
Trích từ SBS radio (Úc Châu) do Hoài Nam biên soạn
Phần 01: 1930 Nguyễn Văn Tuyên, Đặng Thế Phong
> Phần 02  1940 Lê Thương
> Phần 03: Văn Cao phần 1
> Phần 04: Văn Cao phần 2
> Phần 05: Dương Thiệu Tước
> Phần 06: 1945-1946
> Phần 07: Thẩm Oánh , Canh Thân, Tô Vũ, Nguyễn Thiện Tơ
> Phần 08: Thế nào là nhạc tiền chiến
> Phần 09: Pham Duy Nhượng, Lê Hoàng Long, Tu Mi, Võ Đức Phấn
> Phần 10: Lưu Hữu Phước, Trần Hoàn, Tô Hoài, Tô Vũ
> Phần 11: Hoàng Giác, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Văn Tí
> Phần 12: Nguyễn Thiện Tơ, Nguyễn Văn Quỳ, Hoàng Dương
> Phần 13: Đoàn Chuẩn - Từ Linh
> Phần 14: Phạm Duy, Hoàng Trọng, Ngọc Bích
> Phần 15: Văn Giảng, Châu Kỳ
> Phần 16: Anh Việt, Lâm Tuyền
> Phần 17: Tổng kết giai đoạn 1938-1954
> Phần 18: Hoàng Trọng
> Phần 19: Ngọc Bích, Xuân Tiên
> Phần 20: Vũ Thành, Đan Thọ
> Phần 21: Phạm Duy
> Phần 22: Lê Trọng Nguyễn
> Phần 23: Hoàng Nguyên
> Phần 24: Lê Mộng Nguyên, Nguyễn Hiền, Nhật Bằng
> Phần 25: Phạm Đình Chương 1
> Phần 26: Phạm Đình Chương 2
> Phần 27: Văn Phụng
> Phần 28: Hoàng Thi Thơ
> Phần 29: Nguyễn Văn Đông
> Phần 30: Tuấn Khanh
> Phần 31: Y Vân
> Phần 32: Anh Bằng
> Phần 33: Minh Kỳ
> Phần 34: Lê Dinh
> Phần 35: Phạm Mạnh Cương, Phạm Trọng Cầu
> Phần 36: Lam Phương
> Phần 37: Trúc Phương
> Phần 38: Huỳnh Anh
> Phần 39: Khánh Băng
> Phần 40: Duy Khánh
> Phần 41: Mạnh Phát
> Phần 42: Nhật Trường
> Phần 43: Hoài Linh
> Phần 44: Song Ngọc
> Phần 45: Nhật Ngân, Thanh Sơn
> Phần 46: Nguyễn Ánh 9
> Phần 47: Đỗ Lễ, Bảo Thu
> Phần 48: Hoài An, Nguyễn Vũ
> Phần 49: Trường Hải, Dzũng Chinh, Hàn Châu
Phần 50: Cung Tiến phần 1
> Phần 51: Cung Tiến phần 2
> Phần 52: Thanh Trang, Anh Việt Thu
> Phần 53: Phạm Thế Mỹ
> Phần 54: Trầm Tử Thiêng Phần 1
> Phần 55: Trầm Tử Thiêng Phần 2
> Phần 56: Trường Sa
> Phần 57: Từ Công Phụng
> Phần 58: Trịnh Công Sơn Phần 1
> Phần 59: Trịnh Công Sơn Phần 2
> Phần 60: Lê Uyên Phương Phần 1
> Phần 61: Lê Uyên Phương Phần 2
> Phần 62: Vũ Thành An
> Phần 63: Ngô Thụy Miên Phần 1
> Phần 64: Ngô Thụy Miên Phần 2
> Phần 65: Ban Nhạc Trẻ Phượng Hoàng_Phần 1
> Xuân Kỷ Sửu: Xuân Trong Tân Nhạc Viêt Nam
> Phần 66: Ban Nhạc Trẻ Phượng Hoàng_Phần 2
> Phần 67: Đức Huy, Nam Lộc, Quốc Dũng, Tùng Giang
> Phần 68: Phạm Duy Phần 1
> Phần 69: Phạm Duy Phần 2
> Phần 70: Phạm Duy Phần 3
> Phần 71: Phạm Duy Phần 4
> Phần 72: Tổng Kết Thời Kỳ Thứ 2 Trong 70 Năm Tình Ca
> Phần 73: Thời Kỳ Sau 1975 Phần 1
> Phần 74: Thời Kỳ Sau 1975 Phần 2
> Phần 75: Trầm Tử Thiêng
> Phần 76: Hoàng Thi Thơ, Phạm Duy, Song Ngọc, Anh Bằng, Đăng Khánh
> Phần 77: Tùng Giang, Duy Quang
> Phần 78: Đức Huy
> Phần 79: Trần Quảng Nam , Vũ Tuấn Đức, Hoàng Quốc Bảo, Margurerite Phạm
> Phần 80: Nguyệt Ánh, Việt Dũng, Duy Trác, Trần Ngọc Sơn
> Phần 81: Đăng Khánh
> Phần 82: Trúc Hồ
> Phần 83: Lê Tín Hương, Trịnh Nam Sơn, Hoàng Thanh Tâm, Đỗ Cung La, Anh Tài, Đặng Hiền
> Phần 84: Ngô Thụy Miên
> Phần 85: Lam Phương
> Phần 86: Anh Bằng, Từ Công Phụng
> Phần 87: Nguyễn Đình Toàn
> Phần 88: Nguyễn Ánh 9
> Phần 89: Trần Quang Lộc
> Phần 90: Nguyễn Trung Cang - Lê Hựu Hà - Quốc Dũng
> Phần 91: Bảo Chấn - Bảo Phúc
> Phần 92: Thanh Tùng - Phú Quang - Quốc Bảo
> Phần 93: Ngọc Lễ - Trần Tiến
> Phần 94: Sơ lược về âm nhạc VN trong 34 năm 1975-2009
 
PS: Đây là tập hợp các bài viết về các tác giả nổi tiếng trong nền Tân Nhạc Việt Nam . Hy vọng các bạn sẽ cảm nhận được những khúc tình ca và phổ biến các tình ca của Tân Nhạc Việt Nam . Một nền Tân Nhạc đang bị giới trẻ lãng quên và chìm đắm trong các ca khúc quá dễ giải và vô vị. Nguồn: Ngaydochungminh
Trịnh Công Sơn với những tình khúc như lời tỏ tình với cuộc sống.
Phạm Duy với dòng âm nhạc đậm nét dân tộc với đủ các thể loại Tình Ca, Du Ca, Trường Ca,...
Đoàn Chuẩn với các ca khúc bất hủ về mùa thu.
Lê Uyên với các ca khúc về tình yêu lứa đôi trần trụi và đời thường.
Vũ Thành An với các bài Không tên bất tử.
Từ Công Phụng với những ca khúc tình tự với cuộc sống và giọng ca trầm.
Lam Phương, nhạc sĩ bất hạnh trong tình yêu, với những thăng trầm trong cuộc sống được biểu hiện qua các sáng tác của ông.
Lê Thương, nghệ sĩ đa tài với sáng tác nổi tiếng trường ca Hội Trùng Dương.
Đặng Thế Phong, người nhạc sĩ thiên tài nhưng  mệnh yểu với một số ca khúc được biết đến như: Giọt mưa thu, Con thuyền không bến... buồn thê lương.
............
Dương Thiệu Tước, người nghệ sĩ đa tài và thâm thúy
 
Nghe “70 năm tình ca trong tân nhạc Việt Nam “ của Hòai Nam
 
Hình minh họa lấy từ Diễn đàn Âm nhạc của trang mạng Việt Nam Thư Quán
 
1.
 
Cách đây vài năm, một người bạn ở bên Úc gởi cho tôi CD thâu lại chương trình “ 70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam “ do Hòai Nam phụ trách trên đài phát thanh SBS ở Úc. Do bận rộn nhiều công việc, tôi bỏ quên CD ấy trong ngăn kéo. Mãi đến vài tháng sau, tình cờ thấy lại, tôi lấy ra đem theo trong xe để nghe trong lúc trên đường đến sở làm.
 
Ngay từ những giây phút đầu tiên của phần thứ nhất trong chương trình, giọng nói ấm áp của người phụ trách đã khiến tôi phải chú ý. Sau đó, nếu có bất cứ một thời gian rảnh rỗi nào, tôi đều dùng để nghe cái CD chứa những chương trình phát thanh thật là hấp dẫn ấy. CD có 50 chương trình đã phát thanh được thâu lại và vẫn chưa hòan tất. Tôi tìm địa chỉ đài phát thanh SBS trên mạng để nghe tiếp chương trình của ông Hòai Nam . Và tất nhiên , thâu lại. Vì ông Hòai Nam có thông báo rằng ông không có ý định thực hiện những CD cho chương trình của mình, thính gỉa nếu thích, có thể thâu lại trước khi đài SBS xóa bỏ vì sức chứa những bài lưu trữ của đài có giới hạn. Cuối cùng, tính đến chương trình phát thanh cuối cùng kết thúc 70 năm Tình ca Việt Nam vào đầu năm 2010, tôi có trong tay tổng cộng 94 phần ( episodes ), mỗi phần chiếm thời lượng khỏang từ 20 phút cho đến 30 phút. Lấy trung bình 25 phút một phần thì 94 phần của chương trình này dài khỏang 2400 phút hay khỏang 40 tiếng hồ liên tục.
 
Công trình đồ sộ dài 40 tiếng đồng hồ thu thanh nói về Tình ca trong nền tân nhạc Việt Nam kể từ giai đọan phôi thai năm 1930 cho đến năm 2009 , tức khỏang 70 năm, công trình mà ông Hòai Nam khiêm tốn gọi là “ chương trình tân nhạc dẫn giải “ quả thật đã gây ở tôi một ấn tượng thật mạnh mẽ, đến độ tôi phải tìm hiểu xem tác giả là người thế nào mà đầy khả năng , tâm huyết thực hiện một chương trình khiến rất nhiều bạn bè người quen kẻ biết của tôi, khi được giới thiệu, đã ngay lập tức bày tỏ sự yêu thích và thán phục. Với từ khóa “ 70 năm tình ca Việt Nam “ gõ vào ổ tìm kiếm Google, kết quả cho thấy chương trình này được nối kết (link ) hoặc đem về ở hầu hết những diễn đàn, trang mạng điện tử về âm nhạc, về văn chương . Nhiều trang còn có phần minh họa thêm về hình ảnh các nhạc sĩ , các ca sĩ rất chuyên nghiệp, kèm thêm phần bình luận của người xem ( nghe ). Tất cả đều không tiếc lời khen ngợi chương trình. Nhưng, về tác giả, tôi đã không biết được gì thêm, ngòai cái tên Hòai Nam xa lạ. Ông không có một chức vị gì đứng trước cái tên, chẳng hạn nhạc sĩ, nhà biên khảo, hoặc nhà thơ, nhà văn, những tước hiệu mà tôi cứ đinh ninh sẽ bắt gặp đâu đó trên mạng với cái tên Hòai Nam đi kèm theo. Tước hiệu duy nhất cho tên ông là “ phát thanh viên Hòai Nam của đài phát thanh SBS “ tôi tìm thấy trên trang diễn đàn âm nhạc Việt Nam thư quán . Càng ngạc nhiên hơn nữa, tuy chương trình 70 năm tình ca của ông đã hòan tất hơn một năm nay, đã được giới thưởng ngọan ưa thích và khen ngợi, nhưng tôi không tìm thấy một bài viết nào về công trình của ông, một công trình mà theo tôi rất xứng đáng được quảng bá, giới thiệu đến mọi thành phần người yêu thích âm nhạc, già cũng như trẻ, ngòai nước cũng như trong nước.
 
Một người bạn nhạc sĩ của tôi bảo , tất cả những người yêu thích chương trình 70 năm Tình ca Việt Nam đều nợ ông Hòai Nam một lời cám ơn viết bằng chữ hoa. Có lẽ vì lời nhắc nhở ấy, tôi đã không thể chỉ biết ngồi đó gậm nhấm những âm thanh hạnh phúc khi nghe giọng nói trầm ấm ngọt ngào của ông Hòai Nam rót vào hồn bao kỷ niệm của một thời , qua lời giới thiệu lai lịch một bài hát quen thuộc, hòan cảnh bài hát ấy ra đời và số phận người nhạc sĩ sáng tác bản nhạc ấy bây giờ ra sao.
 
2.
 
Hãy thử tưởng tượng công trình 70 năm tình ca Việt nam được biên sọan theo hình thức thông thường như trước đây dưới hình thức một quyển sách, cũng những phân chia thời kỳ, những dẫn giải ,những trích dẫn bài nhạc đầy đủ cả lời ( có thể cả nhạc kẻ ) và so sánh quyển sách ấy với hình thức mà ông Hòai Nam, tác giả công trình đã thực hiện. Tất nhiên, người yêu nhạc hẳn sẽ chọn công trình của ông Hòai Nam , vì nó sống động, hấp dẫn hơn rất nhiều. Người ta nghe nhạc, chứ ít ai đọc nhạc. Thực hiện bằng hình thức Audio, người biên sọan phải rất là cẩn trọng, vì mọi sơ suất sẽ dễ dàng bị người nghe nhận diện. Đọc tên một bài nhạc, người yêu nhạc có thể chưa nhận ra ngay được đó là bài nào, của ai. Nhưng khi giai điệu bài hát cất lên, người mộ điệu nhận ra ngay bài hát , dù đôi khi không nhớ hay không biết tên bài hát. Trong suốt 94 buổi phát thanh, đã hơn một lần ông Hòai Nam mắc sai sót. Những sai sót đó , hoặc do chính ông phát hiện ra, hoặc do thính giả liên lạc báo cho ông biết. Nhắc đến chi tiết này ở đây để thấy người thực hiện đã chọn một công việc thập phần khó khăn.
 
Mặt khác, do nguyên gốc là một chương trình phát thanh, có một thời biểu phát nhất định vào một giờ nào đó trong ngày, hay một ngày nào đó trong tuần, đôi khi không hẳn đã thuận tiện cho nhiều người đón nghe. May thay, với kỹ thuật hiện nay, việc thu lại để nghe, hay tìm nghe trên mạng điện tử vào những ngày giờ thích hợp nhất cho mình thưởng thức đã khiến một công trình biên sọan như của ông Hòai Nam đã trở nên phổ biến đến nhiều giới, nhiều nơi khác nhau và nhiều thế hệ nối tiếp nhau. Cách đây 40 năm, nếu chúng ta có được phương tiện kỹ thuật trong tầm tay như hiện nay, thì hẳn tòan bộ chương trình “ Nhạc Chủ Đề “ mỗi tối thứ Năm trên đài phát thanh Sài Gòn dạo ấy do nhà thơ Nguyễn Đình Tòan phụ trách ắt sẽ được ghi lại và ngày nay chúng ta sẽ có một gia tài âm nhạc đồ sộ chứ không phải chỉ một chương trình hiếm hoi được lưu giữ trong băng nhạc chủ đề Tình Ca Việt Nam phát hành năm 1970 mà thời gian gần đây chúng ta thấy lưu truyền trên mạng. Hoặc chương trình “Tiếng Nhạc Tâm Tình” do ca sĩ Anh Ngọc phụ trách , nhà văn Mai Thảo viết và đọc lời dẫn nhập, sẽ được biết đến bởi nhiều thế hệ chứ không chỉ những người cùng thời với ông Hòai Nam như ông đã giới thiệu trong phần nói về nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ Nguyễn đình Tòan. Nhắc lại sự tiếc nuối này để chúng ta trân trọng hơn nữa chương trình 70 năm Tình ca trong tân nhạc Việt nam gồm 94 episodes mà nhiều người yêu nhạc đang sở hữu trong tay.
 
 
70 năm tình ca trong tân nhạc Việt Nam được Hòai Nam chia ra làm 3 giai đọan với 5 thế hệ nhạc sĩ.
 
Giai đọan thứ nhất là từ năm 1930 cho đến năm 1946 với những bản nhạc tình bất hủ của những tên tuổi lẫy lừng thuộc thế hệ nhạc sĩ tiên phong Văn Phụng, Văn Cao, Dương Thiệu Tước, Thẩm Óanh, Đòan Chuẩn, Đặng thế Phong, Nguyễn Thiện Tơ, Phạm Duy, Hòang Trọng, Ngọc Bích, Anh Việt, Lâm Tuyền , Lê Thương . . . Đây cũng là thời kỳ của những bài hát mà các nhạc sĩ Lê Thương, Hòang Nguyên gọi là tiếng hát những ngày chưa chiến tranh hay nhạc tiền chiến mà chúng ta thường gọi, dù tên gọi này không được chính xác lắm.
 
Giai đọan thứ hai là từ năm 1954 cho đến 1975, lấy dấu mốc Hiệp Định Geneve 1954 cho đến biến cố lịch sử 30 tháng 4 năm 1975. Trong giai đọan này, Hòai Nam còn chia ra làm 2 thời kỳ : thời kỳ 1 là từ những ngày tháng miền Nam tương đối còn thanh bình với những nhạc sĩ thế hệ thứ hai như Hòang Nguyên, Hòang Trọng, Ngọc Bích , Xuân Tiên, Lê Trọng Nguyễn , Hòang Thi Thơ v…v cho đến giữa những năm 60s.Thời kỳ 2 là khi cuộc chiến tranh Quốc Cộng trở nên khốc liệt với sự ra đời của thế hệ nhạc sĩ thứ ba như Trịnh Công Sơn, Minh Kỳ, Hòai linh, Trúc Phương, Khánh Băng, Y Vân v..v.. Đây cũng là giai đọan Hòai Nam đầu tư công sức vào nhiều nhất với số lượng 55 episodes so sánh với 17 episodes của giai đọan 1 và 21 episodes cho giai đọan 3 .
 
Giai đọan thứ ba là từ sau 1975 cho đến 2009 với các nhạc sĩ thuộc thế hệ thứ tư như : Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà, Nam Lộc, Nguyễn Ánh 9, Lê Tín Hương v..v..và thứ năm như Trúc Hồ, Vũ Tuấn Đức, Ngọc Lễ v…v.. cùng với những nhạc sĩ thế hệ thứ hai, thứ ba ở hải ngọai hay còn sinh sống trong nước.
 
Việc phân chia từng giai đọan cho nền tân nhạc Việt Nam dựa vào những biến cố lịch sử chứ không dựa vào những thay đổi về khuynh hướng sáng tác , theo tôi, tác giả đã có được sự lựa chọn phù hợp và đúng đắn. Bởi vì chính những biến cố lịch sử đã tạo nên một dòng nhạc phản chiến hay dòng nhạc xiển dương những tình cảm trong thời chiến trước 1975, đã tạo nên một dòng nhạc hướng vọng quê nhà ở hải ngọai những năm từ 1975 đến 80. Lịch sử Việt Nam từ khi hình thành nền tân nhạc tới nay đầy dẫy những biến cố có khả năng làm thay đổi cách sống, cách nghĩ của nhiều người, nhiều thế hệ, và các sáng tác văn học nghệ thuật, trong đó có âm nhạc – nhất là nhạc tình – một sản phẩm của con người trong giai đọan nhất định nào đó .
 
Theo dõi 94 chương trình phát thanh của ông Hoài Nam , người nghe chóang ngợp vì mức độ phong phú của những thông tin. Một bài nhạc mà người nghe có thể đã nghe đi nghe lại hàng chục lần nhưng chưa bao giờ được biết tên tác giả là ai, nói gì đến hòan cảnh bài nhạc ấy ra đời và vị trí của nó trong một giai đọan lịch sử. Với 70 năm tình ca trong âm nhạc Việt Nam , người mộ điệu có cơ hội biết được những thông tin quý báu đó. Thí dụ như người nhạc sĩ hòan tòan xa lạ với giới thưởng ngọan trước 75 cũng như sau 75 Marguerite Phạm, theo tiết lộ của Hòai Nam, chính là tác giả một bài hát rất được ưa chuộng là “ Sao đành xa em “ ( Đêm nay, một mình em. Cô đơn dưới ánh đèn vàng . . .) và Marguerite Phạm không ai khác hơn chính là nữ ca sĩ Nguyệt Ánh nổi tiếng với những bài nhạc tranh đấu một thời. Còn nhiều những chi tiết khác, những nhạc sĩ “ xa lạ “ khác, mà chính tôi, một người mê nhạc từ nhỏ, cũng chỉ biết được nhờ theo dõi chương trình 75 năm Tình ca Việt Nam của Hòai Nam. Đó là một trong những đặc tính của chương trình khiến người nghe thích thú và kiên trì theo dõi với cả một sự háo hức. Đối với những nhạc sĩ đã thành danh và tác phẩm của họ được hầu hết mọi người biết đến , thì sự trình bày của Hòai Nam lại khiến người nghe khoan khóai biểu lộ sự đồng tình. Niềm vui lúc này là ở chỗ đồng điệu, đồng cảm. Thí dụ như hai phần phát thanh đặc biệt dành cho nhạc sĩ quá cố Trầm Tử Thiêng. Sự trân trọng của người thực hiện chương trình 70 năm tình ca dành cho người nhạc sĩ suốt một đời vì nghệ thuật này nói lên tấm lòng biết ơn chân thành của ông , cũng là tấm lòng biết ơn của biết bao con người từng rung động vì những bài nhạc tình , từng yêu mến nhân cách cao quý của người nhạc sĩ .
 
Tất cả những bài nhạc được dùng để minh họa trong những phần dẫn giải, giới thiệu đều là những bài nhạc quen thuộc với nhiều người. Nhưng điểm thú vị nhất trong lúc nghe lại những bài nhạc ấy trong chương trình 70 năm tình ca là người nghe được nghe từ tiếng hát của người ca sĩ tiêu biểu nhất cho bài nhạc, cũng là tiêu biểu nhất cho thời điểm bài nhạc ra đời, hoặc người ca sĩ đã giới thiệu bài nhạc ấy với công chúng lần đầu tiên . Sự lựa chọn tinh tế đó chứng tỏ người thực hiện phải có một kiến thức phong phú, đã từng sống qua và ghi nhớ được những sinh họat văn nghệ một thời và khả năng bắt đúng mạch hơi thở của giới thưởng ngọan của từng thời kỳ mà ông đang giới thiệu.
 
Chính ở điểm này mà tôi cảm thấy mình phải ít nhất một lần nói lên lời cám ơn với ông Hòai Nam . Trải suốt 70 năm, khối lượng sáng tác về âm nhạc – dù chỉ là giới hạn ở những bài tình ca – đồ sộ biết chừng nào, không ai có thể có thì giờ thưởng thức được hết kho tàng quý giá ấy. Nhưng , may mắn thay, chúng ta đã có ông Hòai Nam bỏ công chắt lọc lại, chỉ chọn ra những bài nhạc tiêu biểu nhất của một nhạc sĩ, tiêu biểu nhất cho một giai đọan lịch sử, tiêu biểu nhất với một ca sĩ nào đó và những lời dẫn giải ngắn gọn, nhưng đầy đủ và trân trọng.
 
Một công trình như thế, tưởng phải là công sức của nhiều người, nhiều giới, với sự đầu tư đầy đủ cả về thời gian lẫn tiền bạc. Nhưng hình như – theo tôi biết – ông Hòai Nam đảm trách công việc ấy chỉ với những phương tiện mà ông có được với tư cách một cộng tác viên chương trình tiếng Việt của đài phát thanh SBS. Và hẳn nhiên, với tấm lòng yêu nghệ thuật vô bờ. Nếu không có tình cảm ấy thúc đẩy, chưa chắc gì một nhóm người nào đó với sự tài trợ đầy đủ về phương tiện có thể thực hiện được một công trình đầy giá trị như ông Hòai Nam đã làm.
 
3.
 
Một điểm khác của chương trình 70 năm tình ca khiến tôi rất tâm đắc với người thực hiện. Đó là thái độ khiêm tốn ,cầu thị , trân trọng và hiểu biết của ông Hòai Nam trong lúc làm công việc giới thiệu các nhạc sĩ. Những nhận xét của ông chừng mực , chính xác và khách quan. Ngay từ đầu, ông Hòai Nam xác nhận ông không có khả năng làm công việc phê bình âm nhạc và không có ý định làm công việc này. Ông chỉ có những nhận xét, mà ông giới hạn chúng từ quan điểm riêng và sự hiểu biết của người thực hiện. Xét cho cùng, khi thực hiện một chương trình đồ sộ phong phú, đa dạng như chương trình 70 năm tình ca , người thực hiện khó tránh khỏi những nhận xét mang tính cách phê bình trong lúc dẫn giải. Nhưng tính cầu thị rất khả ái của ông Hòai Nam đã giúp ông dừng lại trong những giới hạn cần thiết. Chẳng hạn , khi nói về dòng nhạc mà ông gọi là “ thời trang “ của tình ca Việt Nam giữa những năm 60, 70 ( lọai nhạc mà có người gọi là nhạc sến, hay nhẹ nhàng hơn là “ nhạc quê hương “ ), Hòai Nam đã rất cẩn trọng trong những dẫn giải của mình. Theo tôi, ở điểm này, Hòai Nam thật nghiêm túc. Ông chỉ nêu chúng ra để phân biệt với những khuynh hướng sáng tác khác cùng thời, đôi khi ở cùng một tác giả nhưng có những khuynh hướng sáng tác khác nhau. Hiện nay, cuộc tranh luận về nhạc sến ( tức lọai nhạc thời trang theo Hoài Nam ) vẫn còn diễn ra ở trong nước. Số người bênh, số người chê vẫn có những lý lẽ riêng của họ, nên sự cẩn trọng của ông Hòai Nam là cần thiết.
 
Hoặc , khi nói về những nhạc sĩ “ gây tranh cãi “ như Trịnh Công Sơn chẳng hạn, ông minh định rất rõ hướng đi và mục đích của mình trong lúc giới thiệu. Sự thẳng thắn và dứt khóat ấy đã ngăn lại được nhiều đầu óc quá khích, cực đoan hay đem quan điểm, lập trường làm thước đo nghệ thuật. Khi giới thiệu những nhạc sĩ trong nước ở thời kỳ sau 75, ông thật khiêm tốn khi tự đánh giá sự giới hạn trong việc theo dõi cũng như nguồn tài liệu của mình khi làm công việc này. Dù vậy, theo tôi, sự thẩm định của ông thật xuất sắc khi giới thiệu những khuôn mặt tiêu biểu ở trong nước. Mặt khác, với tư cách người tị nạn Cộng sản sinh sống ở Hải ngọai, ông đã mạnh dạn vượt lên trên mọi thái độ hẹp hòi, thái độ “ lên gân lập trường “ để công khai công nhận thành quả nghệ thuật của người trong nước, nhất là những nghệ sĩ xuất thân từ miền Bắc như Trần Tiến, Phú Quang , hay là người miền Nam tập kết ra Bắc như Thanh Tùng v..v.. Cái cung cách trang trọng ông giới thiệu nhạc sĩ gốc bộ đội Trần Tiến đã khiến tôi vô cùng xúc động.Qua sự giới thiệu của ông, người nghe ở bên này chiến tuyến hẳn phải đồng ý với ông rằng người nhạc sĩ ở bên kia chiến tuyến ấy xứng đáng nhận một sự chào đón nồng ấm, dù cái oan nghiệt của cuộc chiến vừa qua đã xui khiến có lúc chúng ta là những kẻ thù không đội trời chung của nhau.
 
Có thể những ghi nhận của ông về nhạc tình trong nước sau 75 còn nhiều thiếu sót, nhưng đó là sự thiếu sót tha thứ được. Vả chăng, chính ông cũng xác nhận rằng những tác giả không được ông nhắc đến trong chương trình của mình không phải vì ông không trân trọng sự nghiệp của họ, mà chỉ là vì sự cách trở về địa lý khiến ông không có được sự hiểu biết cần thiết cũng như nguồn tài liệu đầy đủ để giới thiệu.
 
Chúng ta đang sống giữa một thế giới thừa mứa nhiều thứ, nhưng lại thiếu lòng khoan dung và sự khiêm tốn , thì thái độ ấy của tác giả 70 năm tình ca là một tấm gương để cho mọi người cùng soi. Trong bối cảnh bát nháo của các diễn đàn hiện nay, lợi dụng những phương tiện khoa học kỹ thuật trong tầm tay, nhiều người đã không kềm chế được con thú trong bản năng của mình, có những lời lẽ lăng mạ người không cùng quan điểm hoặc mượn diễn đàn ảo ( hay còn gọi là diễn đàn giấu mặt, giấu tên ) để trút hết những bực bội riêng tư vào việc phê bình người khác một cách vô trách nhiệm , càng khiến sự nghiêm túc trong khen , chê của Hòai Nam thêm phần giá trị. Người nghe có thể không đồng ý với ông về một vấn đề nào đó, nhưng chắc chắn vẫn phải kính trọng cung cách ông trình bày quan điểm của mình.
 
4.
 
Tôi vẫn không thể giải tỏa được nỗi ấm ức của mình khi dùng danh xưng khách sáo “ ông Hoài Nam “ để viết về một người tôi ngưỡng mộ , dù chỉ biết ông qua 2400 phút của chương trình 70 năm Tình ca trong tân nhạc Việt Nam. Tôi đã nhiều lần đắm mình trong giọng nói ấm áp ngọt ngào và những bài nhạc tình đầy ắp kỷ niệm của hai ngàn bốn trăm phút quý báu ấy, cũng như tôi đã lưu trữ chúng để làm của truyền lại cho con cháu mai sau. Nhiều bạn bè tôi cũng đã làm như vậy. Một anh bạn nhà văn , khi nhận được “quà biếu “ của tôi là tòan bộ 94 episodes của 70 năm Tình ca, đã viết thật giản dị , mộc mạc mà chí tình “ Hòai Nam làm một công trình xịn hết biết “. Một người bạn khác, trong đêm Giáng sinh lạnh buốt của mùa Đông Wichita , đã viết cho tôi “ Anh T. Vấn ơi ! Tôi đang ngồi cạnh lò sưởi, ly rượu vang trên tay và cùng với người mẹ già 80 tuổi, chúng tôi nghe 70 năm Tình ca mà anh gởi tặng. Quả là những khỏanh khắc tuyệt vời mà tôi được hưởng ! “. Một đứa cháu của tôi thuộc thế hệ 8x sinh sống ở trong nước, nghe xong chương trình, đã bộc lộ ngắn ngủi “ Quá đã ! bác Ba ơi ! “.
 
Như một cách làm giảm nhẹ sự ấm ức còn chất chứa trong lòng, tôi bắt chước chính ông Hoài Nam khi nói về sự nghiệp sáng tác của nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ Nguyễn Đình Tòan và tác phẩm “ Bông Hồng tạ ơn “ mà Nguyễn Đình Tòan sọan với mục đích tạ ơn những văn thi nghệ sĩ đã cống hiến cho đời những tác phẩm nghệ thuật sống mãi với thời gian. Ông Hòai Nam ghi nhận rằng, trong tác phẩm đó, Nguyễn Đình Tòan , lẽ dĩ nhiên, không thể tạ ơn chính mình, nên Hòai Nam mượn chương trình phát thanh nói về Nguyễn Đình Tòan để gởi đến người nhạc sĩ đa tài một bông hồng mà ông rất xứng đáng được nhận. Bài viết này có thể chưa nói hết được giá trị công trình có một không hai của ông Hoài Nam, nhưng tác giả của nó cũng mạo muội thay mặt những thính giả yêu thích chương trình 70 năm tình ca gởi đến người thực hiện chương trình là ông Hoài Nam như một bông hồng tươi thắm nhất của lòng biết ơn.
 
Xin ông hãy nhận cho chúng tôi được nhẹ lòng và thỏai mái đắm mình trong từng giây phút của hai ngàn bốn trăm phút 70 năm tình ca Việt Nam mỗi khi có dịp.
________________________________
 
*Tôi kèm theo ở đây 2 cái links dành cho những vị nào muốn đem về cất giữ trong máy của mình tòan bộ chương trình 70 năm tình ca trong tân nhạc Việt Nam của Hòai Nam gồm 94 episodes .
Link thứ nhất gồm episodes 1 cho đến 38.
Link thứ hai gồm episodes 39 đến 94.

>
Hoặc nếu không muốn đem về máy, quý vị có thể vào nghe trực tiếp theo link dưới đây:

>
** Để tìm hiểu thêm về tác giả công trình “ 70 năm tình ca trong tân nhạc Việt nam “, tôi có nhờ một người bạn ở Nam Cali làm trung gian để tôi có thể liên lạc với Ban Việt Ngữ đài SBS bên Úc. Qua thư từ trao đổi, tôi mới biết anh Quốc Việt, trưởng ban Việt ngữ đài SBS chính là Trần như Hùng, người bạn thân của nhà văn quá cố Cao Xuân Huy đã bỏ cả công ăn việc làm từ Úc bay qua Mỹ để lo cho bạn những ngày cuối nằm trên giường bệnh cho đến khi thân xác chỉ còn là nắm tro vô tri vô cảm. Với chút giao tình nhân cái chết của CXH, anh Quốc Việt vui vẻ hé mở cho tôi biết chút ít về ông Hoài Nam ,một nhân vật “ vô danh hữu thực “như sau :
 
SBS Radio là 1 đài phát thanh quốc gia của chính phủ Úc thành lập nhằm phục vụ các cộng đồng sắc tộc định cư tại Úc. (có cả thảy 68 ban phát thanh, ban tiếng Viêt là 1 trong 5 ban lớn nhất, với 2 buổi phát hanh mỗi ngày, 7 ngày 1 tuần). Chương trình của SBS Radio nhằm giúp các cộng đồng sắc tộc hội nhập thành công vào xứ Úc, nên chú trọng nhiều vào những đề tài liên quan đến nước Úc và đời sống hàng ngày.. .
 
Chúng tôi có 1 số nhân viên chính thức  toàn thời và bán thời, cùng với 1 số cộng tác viên. Anh Hoài Nam là 1 cộng tác viên của ban Việt ngư SBS.  Anh đóng góp bài theo thỏa thuận  (đề mục, thời gian v .v. . ) Loạt bài 70 năm tình ca trong tân nhạc Việt Nam   là 1 project anh Hoài Nam nhận thực hiện cho SBS Radio.
 
Rất nhiều thính giả -tại Úc cũng như trên thế giới- đã đề nghị chúng tôi phát hành bộ đĩa thu lại toàn bộ chương trình này nhưng rất tiếc SBS Radio không làm thương mại, và chúng tôi, chịu trách  nhiệm ban Việt ngữ cũng không có quyền làm chuyện đó, kể cả tác giả – vì bản quyền phát thanh đã thuộc về SBS . Tôi chỉ biết trả lời mọi người là tôi chẳng biết gì về mấy trang web có đăng tải loạt bài đó  cả. Quý vị nào download hay thu li ở đâu thì tôi chưa bao giờ nghe và chưa bao giờ biết !
 
(Kể 1 chuyện vui anh nghe: Hôm tháng 7/2010 vừa rồi, tôi có sang Cali dự đại hội TQLC. Gặp lại 1 cô bạn cũ, cô ấy hớn hở tặng tôi 1 bộ CD thu loạt bài 70 năm tình ca , với lời giải thích "được bạn ở VN tặng, thấy hay quá, muốn giúp tôi có tài liệu để … phát thanh" !)
Về Hoài Nam, trước 75 là 1 sĩ quan KQ –phục vụ trong ngành CTCT.  Sau 75, như chúng ta, HN cũng qua một số năm tù, vượt biển định cư tại Úc đã gần 30 năm. Hiện sống bằng 1 nghề tay mặt, và giải trí với nghề (nghiệp) tay trái là viết lách báo chí và cộng tác với ban VN chúng tôi.. . “
 
( trích một đọan e-mail của anh Quốc Việt đài SBS )
 
T.Vấn©2011

Labels

Followers