Friday, April 30, 2010

Nhạc nhớ trăng xưa (Quỳnh Giao)

Nhạc nhớ trăng xưa (Quỳnh Giao)
Tuesday, April 27, 2010 Bookmark  and Share







Quỳnh Giao

Sau Tháng Tư đen 1975, tân nhạc Việt trở lại khuynh hướng hoài niệm quê hương như đã xảy ra hơn hai chục năm trước, khi đồng bào từ miền Bắc di cư vào Nam.

Hiệp định Genève chia đôi đất nước để lại một vết cắt đau thương trong nguồn sáng tác. Số lượng nhạc sĩ từ miền Bắc di cư vào Nam khá đông đảo. Họ đã vì niềm luyến tiếc quê hương và niềm mơ ước một ngày hồi hương nên sáng tác rất nhiều ca khúc cùng đề tài, nhưng rất phong phú, đa dạng.

Từ Phạm Duy với “Tình Hoài Hương”, Vũ Thành với “Giấc Mơ Hồi Hương”, Dương Thiệu Tước với “Thu Nhớ Chiều Quê”, Hoàng Trọng với “Mộng Ngày Hồi Hương”, Phạm Ðình Chương với “Xuân Tha Hương”, v.v. cho đến lớp nhạc sĩ lớp trẻ hơn như Anh Hoa với “Hận Ly Hương”, Phó Quốc Thăng và Phó Quốc Lân với “Xuân Ly Hương” và “ Cung Ðàn Lữ Thứ”, Lam Phương tuy là người Nam nhưng cảm tác vào hoàn cảnh ấy cũng có bài “Chuyến Ðò Vĩ Tuyến” và “Sầu Cố Ðô” đặc sắc. Thời ấy, khi được thấy nữ ca sĩ Thúy Nga với giọng ca trầm buồn từ miền Bắc vào vừa ôm đàn accordéon vừa hát “Sầu Cố Ðô”, thì nhiều người cứ ngẩn ngơ. Ngẩn ngơ nhất và chiếm được quả tim của cô là nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đa tài và hoạt bát.

Nếu người viết liệt kê ra hết ở đây, có lẽ chiếm hết cả trang báo mà vẫn còn thiếu.

Hai mươi năm sau, từ 1975, cả triệu người lại bỏ nước ra đi qua nhiều đợt, từ di tản đến vượt biên vượt biển. Lần ra đi này còn bi thảm hơn lần trước vì đi đến một nơi xa lạ, không cùng thứ tiếng. Ðau đớn hơn nữa vì bỏ lại bao nhiêu người thân và không có hy vọng trở về tái ngộ.

Các sáng tác viết cùng đề tài với nỗi niềm nhớ quê hương lần lượt được phổ biến, dù không gian và phương tiện cực kỳ khó khăn để gửi tới thính giả. Thời kỳ đó, chúng ta chưa có các đài radio, hay chương trình TV. Phần lớn được phổ biến trên sân khấu qua các ca sĩ đã đi được, như Khánh Ly, Mai Hương, Lệ Thu, Thái Hiền, Duy Quang, Tuấn Ngọc, Khánh Hà và một thành phần ca sĩ trẻ mới xuất hiện nhưng hát rất hay như Ngọc Lan, Như Mai, Hải Lý v.v...

Nhiều nhạc sĩ lần lượt soạn các ca khúc làm mềm lòng người nghe như Anh Bằng với “Nỗi Lòng Người Ði”, Song Ngọc với “Sài Gòn Bây Giờ Buồn Không Em”, Thanh Trang với “Sài Gòn Nhớ, Sài Gòn Thương”, Ngô Thụy Miên với “Sài Gòn Còn Ðó Nỗi Buồn”, Nam Lộc với “ Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt”... Từ trong nước cũng lén gửi ra ngoài tâm tư của người kẹt, như nhà văn Nguyễn Ðình Toàn với ca khúc bất hủ mà Khánh Ly khi hát đã rơi nước mắt là bài “Sài Gòn Thành Phố Mất Tên”... Chủ điểm chung là Sài Gòn, là nơi chốn xa xưa như Hà Nội một thời sau năm 54.

Ðến khi phong trào vượt biển bắt đầu, các nhạc sĩ muộn màng đặt chân tới bến bờ tự do cũng viết hàng loạt ca khúc tương tự. Có khác hơn là thêm kinh nghiệm đau thương của cuộc vượt sóng cam go, và cả những năm tháng tù đầy, cải tạo.

Văn Phụng viết “Xin Cảm Ơn Thượng Ðế” ngay từ khi ở đảo. Nhật Bằng viết “Nước Mắt Quê Hương” khi sang định cư ở Virginia. Châu Ðình An viết “Ðêm Chôn Dầu Vượt Biển” ngay từ trong trại, và Việt Dzũng cùng Nguyệt Ánh đã đứng lên phát động phong trào “Hưng Ca” với các ca khúc rực lửa và thấm đậm tình yêu quê hương.

Thời kỳ này, nhạc sĩ kỳ cựu Phạm Ðình Chương sáng tác một loạt ca khúc nghệ thuật phổ thơ của thi hữu. Biệt tài của ông từ trước đến nay chưa ai vượt qua được là phổ nhạc vào thơ.

Sang đến hải ngoại, tài năng ấy không mai một mà còn sáng chói hơn nữa. Từ bài “Hạt Bụi Nào Bay Qua” phổ thơ Thái Tú Hạp, đến hai bài thơ Hoàng Ngọc Ẩn là “Cho Một Thành Phố Mất Tên” và “Bên Trời Phiêu Lãng”. Khi ông phổ thơ Du Tử Lê thì quả là một cuộc hôn phối (lời của chính Phạm Ðình Chương) toàn mỹ. Ðó là “Khi Tôi Chết Hãy Ðem Tôi Ra Biển”, “Quê Hương Là Người Ðó” và nhất là “Ðêm, Nhớ Trăng Sài Gòn”.

Nhạc thuật và cách chuyển cung đặc biệt của Phạm Ðình Chương đem lại cho bài thơ một nhan sắc rực rỡ.

Lúc sinh tiền, nhà văn Mai Thảo thường tâm sự, rằng “nhà văn bị bứng ra khỏi quê hương thì như cây bị bứt rễ, không thể viết được nữa!” Ông nói thế mà giữ vững tạp chí Văn cho đến cuối đời và còn in một tập thơ thật đẹp. Theo ý một số bằng hữu, thơ Mai Thảo còn hay hơn văn xuôi và tùy bút nữa. Nội dung vẫn như những cái rễ, nối về quê hương và bằng hữu ở nhà để xoa dịu nỗi cô đơn trên đất khách.

Có lẽ Phạm Ðình Chương là trường hợp ngoại lệ. Ông kéo dài được phong độ Sàigon ra tới hải ngoại trong khoảng chục năm. Trong khi Vũ Thành vào lúc mới sang thì không có cảm hứng để viết nữa. Phạm Duy cũng cạn phong độ của thời kháng chiến và hào quang ngày cũ. Văn Phụng, Ðan Thọ và Hoàng Trọng sáng tác ít và chỉ để cho con cháu. Lời của nhà văn Mai Thảo dường như không sai...

Ngẫu nhiên sao, những ngày cuối Tháng Tư cũng lại là những ngày tròn trăng khiến chúng ta càng day dứt nhớ trăng Sàigon và bài thơ Du Tử Lê trên giai điệu của Phạm Ðình Chương. Lời thơ nhiều khi trúc trắc với những từ rất mới và ý khá lạ, lại như được người nhạc sĩ kéo tròn thành mật, làm mình cứ lịm đi trong nỗi nhớ...

Ngày nay, thiếu gì người đã có thể trở về Sàigon! Nhưng ở tại chỗ mới thấy rằng trăng thuở cũ đã nhợt nhạt và nỗi buồn thời đó đã lạt phai. Còn lại chính là một nỗi buồn khác: Sàigon năm xưa đã chết hẳn rồi. Nhưng vẫn sống mãi trong nỗi nhớ của chúng ta, ở bên ngoài này.

Cứ hát lại là mình nhớ lại sự lạc loài bơ vơ nay đã trở thành kỷ niệm hòa quyện trong đời sống rất thật của chúng ta.



Labels

Followers